• Xưởng sửa chữa và chuẩn chỉnh máy địa vật lý

    Xưởng có nhiệm vụ chính là bảo dưỡng, sửa chữa và hiệu chỉnh các máy móc thiết bị điện tử phục vụ cho các đơn vị trong Xí nghiệp địa vật lý giếng khoan. Ngoài ra xưởng còn nghiên cứu đưa vào ứng dụng và phát triển công nghệ tin học trong công tác địa vật lý

  • Trung tâm Phân tích và Xử lý số liệu

    Có nhiệm vụ đánh giá chất lượng tài liệu do Xí nghiệp Địa vật lý thực hiện.

  • Đội công nghệ cao

    Khảo sát địa vật lý tổng hợp trong giếng đang khoan. Đo địa vật lý tổng hợp, bắn mìn.

  • Đội Kiểm tra công nghệ khai thác

    Có nhiệm vụ là đo khảo sát và kiểm tra công nghệ khai thác trong các giếng khai thác và bơm ép.

  • Đội Carota khí

    Đội Carôta khí có nhiệm vụ chính là khảo sát carota khí, cung cấp kịp thời các số liệu để xác minh trữ lượng, tình trạng các giếng khoan.

  • Đội thử vỉa

    Đội có nhiệm vụ thử vỉa ở các giếng khoan nhằm định hướng cho công tác khoan, xác định tình trạng và đo vỉa, cung cấp thông tin để xác định trữ lượng công nghiệp của giếng

L&TD

LOGGING & TESTING DIVISION

XÍ NGHIỆP ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN - BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA CÁC NHÀ DẦU KHÍ - TRANG WEB ĐANG TRONG THỜI GIAN NÂNG CẤP VÀ CẬP NHẬT....

Nghiên cứu đặc điểm địa tầng vùng rồng, cơ chế hình thành, đặc tính tầng chứa vùng đông nam rồng.

           Hiện nay vùng Đông Nam Rồng thuộc cấu tạo Rồng đã tiến hành khai thác dòng dầu có sản lượng công nghiệp cao nhưng hầu như các thông tin vùng Rồng nói chung và vùng Đông Nam Rồng nói riêng vẫn chưa đầy đủ.

Bài viết này đưa ra những nghiên cứu mới về đặc điểm địa tầng vùng Rồng và cơ chế hình thành, đặc điểm tầng chứa vùng Đông Nam Rồng. Hy vọng cung cấp thêm những tài liệu, thông tin cho công tác mở rộng tìm kiếm thăm dò dầu khí vùng Rồng.

1- Đặc điểm địa tầng mỏ Rồng:

Mỏ Rồng nằm trong bể Cửu Long thuộc vùng thềm lục địa phía nam Việt Nam. Lát cắt địa chất chung cho một giếng khoan cụ thể vùng Rồng như sau:

1.1 Các thành hệ trầm tích:

Thành hệ Biển Đông: Gồm Pliocence trên + Đệ tứ ( N2 + Q1) nóc thành hệ có độ sâu 100m (Đáy biển); đáy thành hệ có sâu: Từ 670 - 690m tổng chiều dày 570 - 590m.

Thành phần thạch học: chủ yếu là cát thạch anh bở rời hạt thô đến rất thô, sạn, sỏi cuội hạt trung đến thô, sét mềm lẫn bột màu xám, xanh, đỏ, vàng, bùn đáy biển.

** Các thành hệ Miocence gồm:

-          Miocence thượng (Đồng Nai) nóc thành hệ có độ sâu từ 670 - 690m đáy có độ sâu từ 1097 -1102m có tổng chiều dày 412 - 427m.

Thành phần thạch học: Cát sáng màu hạt thô tới rất thô, lẫn ít sạn, sỏi, cuội hạt nhỏ, sét mềm, đôi chỗ dẻo quánh, màu xanh, đỏ. bột màu nâu, xanh sẫm.

- Miocence trung (Côn Sơn) nóc thành hệ có độ sâu từ 1097 -1102m đáy có độ sâu từ 1670 -1697m có tổng chiều dày 573 - 595m.

+ Thành phần thạch học: Phần trên của Miocence trung - Cát thạch anh từ xám đến xám sáng, hạt trung đến thô, sét màu xám xanh, nâu đỏ, nâu vàng, bột màu xanh sẫm tới nâu sáng.

Phần giữa và dưới của Miocence trung - Cát kết thạch anh sáng màu, hạt trung gắn kết yếu, sét kết màu xám sẫm, xám nâu gắn kết yếu, bột kết màu nâu, nâu nhạt gắn kết yếu. Tầng chắn khu vực Rotalit sét kết màu xanh, đỏ, nâu có chứa hoá thạch cổ sinh Rotalia thuộc nhóm trùng lỗ Foramonifera.

- Miocence hạ (Bạch Hổ) nóc thành hệ có độ sâu từ 1670 -1697m đáy có độ sâu từ 2030 - 2049m có tổng chiều dày 352 - 360m.

+ Thành phần thạch học: Cát kết thạch anh màu từ trong đục đến trong mờ, xám sáng, xám vàng  hạt từ trung đến thô, độ chọn lọc từ trung bình tới tốt, gắn kết từ trung bình tới tốt, sét kết màu xám xanh, xám tối, xám nâu, nâu tối: Ranh giới chuyển tiếp sang Oligocence hạ - Sét kết chuyển dần từ màu nâu---sang nâu đỏ nhạt---nâu đỏ---nâu đỏ sẫm---nâu đỏ hơi đen---nâu đen---đen nâu: Là đã chuyển sang nóc của Oligocence thượng

** Thành hệ Oligocence thượng (Trà Tân) nóc thành hệ có độ sâu từ 2030 - 2049m đáy có độ sâu từ 2629 - 2656m có tổng chiều dày 599 - 607m.

+ Thành phần thạch học: Cát kết thạch anh màu từ trong đục đến trong mờ, xám sáng, hạt từ trung đến thô, rất thô, độ chọn lọc từ trung bình tới kém, gắn kết tốt phần dưới thấy dấu hiệu bị Quắc zít hoá. Sét kết màu xáng sáng, xám xanh, xám tối, nâu đỏ, nâu vàng, gắn kết tốt phần dưới thấy có dấu hiệu sét bị phân phiến thành phiến sét.

1.2 Vỏ phong hoá: Có chiều dày từ 12 - 96m (Từ 2656 - 2752m):

+ Thành phần thạch học: Các hạt cát thạch anh sản phầm của quá trình phong hoá, sáng màu tự hình, góc cạnh, không có độ mài tròn, chọn lọc. Caonilite: màu trắng đục, trắng hồng, trắng nhợt, đôi chỗ thấy có sự biến đổi chuyển tiếp từ fendspar thành Caonilite, Chlorite màu xám xanh, xanh sẫm, đôi chỗ còn thấy có sự biến đổi chuyển tiếp từ Biotite thành Chlorite.

Phân tích cột địa tầng của vùng này chúng ta nhận thấy:

- Lát cắt vùng Đông Nam Rồng bị khuyết tầng Oligocence hạ (Trà Cú).

- Toàn bộ vùng Đông nam Rồng không có tầng áp suất cao (Tầng dị thường áp suất).

- Toàn bộ lát cắt trầm tích của vùng này từ Biển Đông đến Trà Tân không có tầng chứa sản phẩm: Theo các quan điểm và nhận định thì tầng sinh là các tập vỉa sét kết Miocence và Oligocene - Các dịch chuyển thứ sinh sẽ đi theo các đới nứt nẻ di chuyển vào móng.

- Đối tượng khai thác hoàn toàn nằm trong đá móng.

1.3   Khối móng:

Phân tích sự phân bố các loại đá móng sâu ở mỏ Rồng trên cơ sở các kết quả xác định các loại đá dựa vào thành phần thạch hoá cho thấy các đá móng sâu ở mỏ Rồng phân bố khá phức tạp. Các đá móng trong nhiều trường hợp không tạo thành các thể khối thuần nhất, mà đan xen vào các khối đá chính còn có các thể mạch, đai mạch, minh chứng cho các hoạt giai đoạn hoạt động magma ở những thời kỳ khác nhau trong phạm vi của mỏ Rồng nói riêng và toàn bộ bồn trũng Cửu Long nói chung. Phân tích một cách tổng thể có thể chia khối móng của mỏ Rồng thành ba khối chính là: Khối Tây-Bắc, khối Giữa và khối Đông- Nam. Khối Tây-Bắc được nghiên cứu qua các mẫu lõi ở các giếng khoan R-1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 109, 116. Khối Giữa: R-2, 16 và R-18. Khối Đông-Nam: Nghiên cứu mẫu lõi của 6 giếng khoan: R-14, 21, 201, 203, 206, 305

Vùng Rồng nói chung (Xem hình 1) và Đông nam Rồng (Xem hình 2, 3) nói riêng rất phức tạp: Bị chia cắt mạnh bởi các pha địa chất kiến tạo Caledoni trước Kz. Các hệ thống đứt gãy đã chia khối móng thành các Block cách biệt nhau (H 1), có kích thước tương đối đồng đều, các đứt gãy còn chia vùng này theo nhiều hướng khác nhau tạo ra khối sụt và khối nâng: Các kết quả thăm dò cho thấy mặt móng nông nhất gặp tại giếng khoan R - 21, có độ sâu tuyệt đối là 2269m và sâu nhất trong giếng khoan R -18 ở độ sâu 3765m  Tính thấm chứa của đá móng liên quan trực tiếp tới quá trình phát triển nứt nẻ ( Ngay trong nội tại của mỏ quá trình phát triển cũng khác nhau, dẫn đến sự không đồng nhất: Bao gồm các hệ thống nứt nẻ có sản phẩm và hệ thống không sản phẩm.

+ Thành phần thạch học khối móng: gồm nhiều đơn vị phức hệ magma:

- Nơi có thành phần xâm nhập sâu axit sáng màu Granit, granit biotit phức hệ Cà Ná (Cách nay trên dưới 80 triệu năm)

- Nơi có nhóm xâm nhập sâu axit vừa gồm Granodioroit, adamelit, tonalit, monzolit, monzolit thạch anh và sienit thạch anh (Phức hệ Định Quán, Đèo Cả Cách nay trên dưới 150 triệu năm).

- Nhóm đá trung tính gồm có Diorit, Diorit thạch anh, gabrodiorit, monzogabro (Thuộc phức hệ Ba Vì cách nay 40 -60 triệu năm)

- Nói chung thành phần thạch học của đá móng mỏ Rồng rất phức tạp, da dạng ngoài các thành phần các đá chính nêu trên còn có: Diorite, diorite thạch anh phân bố ở phần Đông Nam, đôi khi xen kẹp các mạch tonalite (R-201), granodiorit hoặc monzodiorite, monzonit, gabrodiorit và cả đá gơnai. Phía Tây và Bắc thành phần chủ yếu của móng là Granite, granit biotit, xen kẹp là các thể mạch granodiorit (R-7), adamelit (R-5), monzonit, monzodiorit thạch anh, sienit thạch anh, gabro (R-4) và microdiorit (R-10).

Các kết quả nghiên cứu và phân tích địa tầng mỏ Rồng cho chúng ta biết: Khu vực này chịu ảnh hưởng của các pha kiến tạo trong các thời kỳ khác nhau:

1 - Thời kỳ tạo móng trước Kainozoi

2 -  Thời kỳ Oligocence

3 - Thời kỳ Pleistocence

Thời kỳ tạo móng trước Kainozoi là thời kỳ hoạt động kiến tạo mạnh nhất, các hệ thống đứt gãy kiến tạo được hình thành chủ yếu trong giai đoạn này, thời kỳ sau là Oligocence tuy yếu hơn giai đoạn trước song cũng tạo ra một loạt các pha phun trào ( Thể hiện ở mẫu lõi R - 4, 6, 7, 8, 9. Thời kỳ Pleistocen + Đệ Tứ ít có ảnh hưởng đến vùng này.

 

Trong quá trình tìm kiếm và thăm dò dầu khí ở các đối tượng móng mỏ Rồng đã phát hiện dòng dầu công nghiệp tại khối nhô Đông Nam Rồng qua các giếng khoan R - 14, 21, 201, 203, 206, 305. Chiều dài khoan vào móng (Tính từ nóc móng), mỏng nhất là ở GK R - 206: 175m và sâu nhất là GK R - 14: 1110m - Tính trung bình cho cả 6 GK ở Đông Nam Rồng là 621m: Với kích thước của khối nhô này khoảng 6500 x 5000 ta sẽ có một trữ lượng tương đối là:

Vđá = 6500 x 5000 x 621m = 20182.5 x 106 m3

Vdầu = Vđá x 0.051 = 304 755 750 m3

Như vậy trữ lương cấp C sẽ là: C = Vdầu x 0.83 = 252 947 272 tấn.

Trữ lượng và tiềm năng dầu khí mỏ Rồng rất lớn. Tuy nhiên cần lưu ý là khả năng chứa dầu mới chỉ là một trong nhiều yếu tố quyết định sự hình thành bẫy chứa trong các loại đá móng.

        6    Đặc điểm của tầng chứa:

Sự hình thành bẫy chứa trong móng mỏ Rồng là kết quả của rất nhiều quá trình địa chất khác nhau như:

1 - Sự co rút thể tích do mất nhiệt khi đông nguội của các dung nham macma nóng chảy trong thời gian kết tinh khối granitoit (Xem H 3).

2 - Quá trình biến đổi hậu macma với sự tác động của hơi khí, H2S, HCl và dung dịch tách ra từ dung nham macma khi các khối macma kết tinh.

3 - Các hoạt động kiến tạo

4 - Các biến đổi nhiệt dịch

5 - Quá trình biến đổi ngoại sinh.

Trong đó 1, 3, 4 đóng vai trò chính - Quan trọng nhất trong việc tạo ra đới nứt nẻ chứa sản phẩm.

3.1 Các cơ chế hình thành tầng chứa, đặc điểm tầng chứa

3.1.1  Khe nút tạo ra do sự co rút thể tích:

Dung thể macma khi nguội có cơ chế ban đầu là co rút thể tích tạo ra các dạng khe nứt tách còn

gọi là khe nứt dạng đĩa: Có kích thước 2C, độ mở lớn nhất 2W (Xem hình 3A) - Kích thước của

khe nứt này phụ thuộc vào các tham số vật lý như: Modun Yong E, năng lượng nhiệt động bề

mặt g lực ứng suất s và gradient nhiệt độ dT/dl Theo tính toán của Griffith (1920) bán kính C

của đĩa nứt tách được tính toán theo công thức: C  =   2gE các nứt nẻ nguyên sinh, co rút thể tích có dạng đĩa - Có bề mặt  vuông góc với Vecter Gradien nhiệt độ hay song song với các mặt đẳng nhiệt.

3.1.2 Khe nứt tạo ra do kiến tạo:

- Quá trình phá vỡ kiến tạo là quá trình kế tiếp sau đó làm mở rộng khe nứt tạo ra đới khe nứt làm chúng liên thông với nhau:  Các chuyển động kiến tạo theo chiều thẳng đứng hay chiều nằm ngang đã làm cho khối móng vùng Rồng nâng lên sụt xuống và chuyền động trượt ngang rất phức tạp, có thể thấy rằng các chuyển động và phá huỷ kiến tạo có tính quyết định trong sự hình thành các hệ thống nứt nẻ trong khối móng - Tạo đới nứt nẻ: Bằng chứng là sự hình thành milonit, các loại dăm kết, có độ rỗng lớn tới >10% gặp ở các độ sâu khá lớn tại các mẫu lõi ở móng Rồng.

- Hình 4: Các lực nén ép và kéo căng của trường ứng suất do hoạt động kiến tạo gây nên đã dễ dàng tạo ra các nứt vỡ lớn, đứt gãy trong vỏ cứng có dạng vòm bao xung quanh khối macma đang nguội dần - Đây là dạng nứt nẻ do tác động gần như cùng một lúc hai tác động: Co rút thể tích và kiến tạo.

     

Khác với các nứt nẻ mở do quá trình co rút thể tích - Các nứt nẻ trong móng do kiến tạo thường rất lớn, kéo dài và có phương chính là phương thẳng đứng hoặc gần thẳng đứng.

- Trong các đá móng có độ cứng cao các vết rạn nứt ban đầu có độ mở rất nhỏ nên gần như đá vẫn không có độ lỗ rỗng, nứt nẻ đáng kể (Xem hình 4a). Dưới tác dụng của lực ứng suất kéo Í,  nứt nẻ mới có dịch chuyển và lỗ rỗng hiệu dụng nứt nẻ trong đá mới bắt đầu có ý nghĩa (Xem hình 4b). Bề mặt của nứt nẻ gồ ghề nên có lực ma sát. Mỗi điểm trên mặt nứt nẻ chịu đồng thời các ứng suất kéo Í và ứng suất nén vuông góc với mặt nứt nẻ. Theo tính toán thực nghiệm của Byerlec thì bao giờ cũng lớn hơn Í :  

      10MPa 200MPa ; Í = 0.85

200MPa 1500MPa ; Í = 50 + 0.6

Và Byerlec cũng cho rằng quy luật này sử dụng phổ biến cho các loại đá khác nhau.

Đối với trường ứng suất thuần kéo hai chiều (Xem hình 5a) có thể phân tích thành trường ứng suất có các hướng chính (Xem hình 5b) là thành phần kéo và nén vuông góc với nhau. Trong trường hợp này các nứt nẻ nhánh có thể tạo thành sẽ vuông góc hoặc gần vuông góc so với nứt nẻ chính.

3.1.3 Các biến đổi nhiệt dịch:

*  Hot động thuỷ nhiệt: Là yếu tố tác động quá trình biến đổi thứ sinh chính của móng: Các biến đổi thứ sinh trong đá móng là kết quả tất yếu đi theo sau quá trình hình thành các hệ thống khe nứt - Nhân tố chính gây nên các biến đổi nhiệt dịch là nguồn nước vỉa tồn trữ trong các hệ thống khe nứt trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao (Còn gọi là nhiệt dung: Hoạt động như một dung môi - Hoà tan và lấy đi khỏi đá móng nguyên sinh các khoáng vật tạo đá kém bền vững.

Vào thời gian đầu: Các hoạt động của dung dịch thuỷ nhiệt có liên quan chặt chẽ với các chuyển động kiến tạo và dẫn đến biến đổi trong thành phần cũng như cấu trúc không gian lỗ rỗng đá móng mỏ Rồng: Các hoạt động kiến tạo đã làm liên thông các nứt nẻ nguyên sinh do sự co rút thể tích khi nguội lạnh của khối magma, tạo điều kiện cho các hoạt động thuỷ nhiệt phát triển - Các dung dịch thuỷ nhiệt, rửa giũa bào mòn khe nứt, nứt nẻ: Dòng thuỷ nhiệt thấm vào phần đá dọc theo các thành của khe nứt làm r• dần và tạo ra các vùng biến đổi nhiệt dịch dạng đới khử kiềm, thuận lợi cho việc bị hoà tan và mang đi - Mở rộng kích thước của nứt nẻ, thậm chí có thể biến chúng thành hang hốc, đặc biệt là nơi giao cắt giữa các nứt nẻ lớn nhỏ: Có thể gọi đây là Tiền quá trình biến đổi thứ sinh.

-     Vào thời gian sau: Có thể gọi là Hậu quá trình biến đổi thứ sinh - Khi dòng thuỷ nhiệt đ• b•o hoà, các khoáng vật sẽ kết tủa, lắng đọng lấp đầy các khe nứt, tạo ra các mạch Canxít, Zeolit làm mất đi khả năng chứa của nứt nẻ. Như vậy hoạt động thuỷ nhiệt là quá trình có hai chièu ngược nhau: Tích cực và hạn chế - Các đá macma trẻ (Phức hệ Cà Ná, Ba Vì) ít chịu tác động của quá trình hậu bién đổi thứ sinh, nên có khả năng chứa. Các đá macma có tuổi cổ hơn (Phức hệ Định Quán) thường chịu ảnh hưởng của quá trình hậu biến đổi thứ sinh nên ít có khả năng chứa.

-     Hình 6A & 6B thể hiện các mạch Zeolit, Canxit lấp đầy khe nứt đá Granodiorite, hình 6C: Các mạch caxit, zeolit lấp đầy khe nứt, hang hốc trong đá granodiorit (Phức hệ Định Quán) mỏ Rồng.

3.2 Đặc tính của tầng chứa:

3.2.1 Đặc điểm rỗng thấm của đá nứt nẻ:

Độ rỗng của đá nứt nẻ phụ thuộc vào mật độ của các nứt nẻ trong một đơn vị thể tích, chiều dài 2C và độ mở 2W của các nứt nẻ, còn độ thấm thì phụ thuộc vào độ mở và khả năng giao nối giữa các nứt nẻ trong đá. Tuy nhiên sự phân bố của các nứt nẻ trong đá lại bị chi phối bởi ô mạng tinh thể các khoáng vật tạo đá và trường ứng suất. Bài toán này trong cơ học đá đ• được Koslenikov và Chelidze (1985) giải theo lý thuyết thấm: Bài toán được giả định rằng nứt nẻ chỉ có ý nghĩa khi số lượng Nc3 (N là mật độ khe nứt, C là bán kính đĩa khe nứt) đạt tới một giá trị nào đó. Khi đó sự vỡ vụn và nứt nẻ là hai khả năng dễ xảy ra khi phân bố các khe nứt trong môi trường đồng nhất phát triển về mọi hướng như nhau, các khe nứt giao nối nhau theo ô mạng (Xem hình 7b). Sự phát triển của các khe nứt thường không đồng đều về mọi hướng mà tập trung theo một hướng ưu tiên nào đó, phụ thuộc vào tính bất đẳng hướng của môi trường đá nứt nẻ, các nứt nẻ kết nối với nhau thành vết nứt lớn (Hình 7c). Các khe nứt phát triển đều về mọi hướng nhưng không giao cắt nhau thì có thể độ rỗng lớn nhưng độ thấm lại kém. Ngược lại các nứt nẻ tập trung vào một hướng chính có giao nối với nhau sẽ tạo ra khe nứt lớn có độ thấm cao mặc dù có thể độ rỗng hiệu dụng không lớn.

Mật độ số khe nứt trong một đơn vị thể tích có thể tính bằng N = 1/ L3 , với l là khoảng cách trung bình giữa các khe nứt (Hình 7d). Cũng với gần đúng như vậy độ rỗng nứt nẻ фf trong thể tích trên đây có thể tính:

фf  =  2Ð C2. W    Và đô thấm K theo định luật Darcy có dạng     K = W 3 фf   =  2Ð C2. W 3

   L                                                                                                     3                   3L3

Như vậy trong đá chứa nứt nẻ, độ thấm K phụ thuộc vào ba tham số vi cấu trúc c, w và L . 

Guéguen (1994) cũng có kết quả thực nghiệm tương tự (Hình 8b). Khi áp suất hiệu dụng Pef tăng, độ mở khe nứt W giảm mạnh (Hình 8a). Khi áp suất thay đổi theo chiều ngược lại, độ mở W không phục hồi như ban đầu mà còn có biến dạng dư.

Ở điều kiện vỉa, áp suất hiệu dụng Pef phụ thuộc vào áp suất P của chất lưu trong lỗ hổng (Áp suất vỉa): Pef = ó - p Với là ứng suất nén vuông góc với bề mặt nứt nẻ ó = Scos (S là áp suất thạch tĩnh, là góc nghiêng của mặt phẳng nứt nẻ  so với mặt phẳng nằm ngang).  

Trong quá trình khai thác, áp suất chất lưu giảm, áp suất hiệu dụng Pef tăng một cách tương đối làm cho độ mở khe nứt W giảm, độ thấm suy thoái. Nếu bơm ép nước để khôi phục áp suất chất lưu nhưng độ mở W không trở về giá trị ban đầu vì có biến dạng dư. Biến dạng dư sẽ triệt tiêu theo thời gian nếu áp suất chất lưu tiếp tục được duy trì. Quá trình này kéo dài được bao lâu phụ thuộc vào đặc tính đàn hồi của đá.

3 - Một vài tính chất của chất lưu trong vỉa sản phẩm:

-                       Dầu ở mỏ Rồng chưa bão hoà khí, đặc tính hoá lý của dầu tách khí: Thuộc loại dầu nặng; Độ nhựa: 3.6 - 4.96%; Nhiệt độ đông đặc: 30 - 310C, Các tính chất của nước vỉa: Loại nước Cacl2 ; Độ khoáng hoá: 12 - 23g/l; áp suất bão hoà (RP-2: 13.55; RC-2: 7.66); Yếu tố khí (M3/gr): RP-2=101.1; RC-2=58; Hệ số thể tích: RP-2=1.347; RC-2=1.183; Độ nhớt điều kiện vỉa (MPa*C): RP-2=0.847; RC-2=1.84; Độ nhớt điều kiện vỉa (g/cm3): RP-2=0.7099; RC-2=0.7673; Độ nhớt điều kiện chuẩn (g/cm3): RP-2=0.8505; RC-2=0.8533

- -So sánh giữa Rồng và Bạch Hổ

Rồng 

Bạch Hổ

Tổng bề dày trầm tích mỏng hơn (~2600-2700m)

Tổng bề dày trầm tích dày hơn (~3700-3900m)

Khuyết tầng Oligocence hạ (Trà Cú)

Có Oligocence hạ

Không có tầng áp suất cao (Trà Tân là thành hệ BT)

Có tầng áp suất cao (Trà Tân là thành hệ dị thường áp suất)

Trong trầm tích không có vỉa sản phẩm

Trong trầm tích có vỉa sản phẩm (Miocence, Oligocence)

Có ranh giới Dầu - Nước

Không có ranh giới Dầu - Nước (Chỉ có ranh giới bơm ép)

Có nhiều đơn vị phức hệ Macma hơn

Có ít đơn vị phức hệ Macma hơn

Tính thấm chứa của móng nhỏ hơn Bạch Hổ

Lớn hơn

Tính không đồng nhất của móng cao hơn

Tính không đồng nhất của móng thấp hơn

Độ rỗng hở trung bình nhỏ hơn: 0.93%

Độ rỗng hở trung bình lớn hơn hơn: 1.87%

 

Kết luận và đề nghị

Hiện nay công tác tìm kiếm thăm dò mở rộng nhằm phát triển vùng mỏ Rồng đang được tiến hành khần trương nên rất cần nhiều thông tin, tài liệu về vùng này. Chúng tôi mong muốn các độc giả, những ai quan tâm tới vấn đề này cùng giao lưu hợp tác nghiên cứu để có những đề tài, công trình nghiên cứu góp phần cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí mở rộng cho vùng cấu tạo Rồng.

NTA-VSP

Video

Quản lý online

Liên kết nội bộ

Giá dầu